top of page

Các loại hình
văn hoá truyền thống Việt Nam

Văn hóa Việt Nam là một trong những nền văn hóa lâu đời, phong phú nhất trên thế giới; nó được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, từ tự nhiên, xã hội đến lịch sử, tôn giáo. Văn hoá định hướng tư duy, hành động của con người, tạo nên bản sắc dân tộc riêng biệt.

Văn hoá truyền thống là gì?

Văn hóa cổ truyền, hay văn hóa truyền thống, bao gồm các tập quán, giá trị, niềm tin, và ngôn ngữ được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một cộng đồng hoặc xã hội. Đặc trưng bởi sự lâu đời và gắn kết sâu sắc với lịch sử, văn hóa cổ truyền góp phần xác định danh tính và cảm giác thuộc về một cộng đồng. Nó không chỉ bao gồm di sản vật thể như công trình kiến trúc và tác phẩm nghệ thuật mà còn bao gồm di sản phi vật thể như nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, và tín ngưỡng.

Văn hóa cổ truyền có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và truyền bá những giá trị cốt lõi của một cộng đồng, giúp nuôi dưỡng và phát triển tinh thần và bản sắc dân tộc. Nó cũng là nguồn gốc của sự sáng tạo và đổi mới, khi những yếu tố truyền thống được kết hợp và tái diễn giải trong các bối cảnh mới. Trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa, văn hóa cổ truyền còn giúp duy trì sự đa dạng văn hóa và thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các nền văn hóa khác nhau.

​Các loại hình văn hoá truyền thống Việt Nam

1. Múa rối nước

Nghệ thuật múa rối nước với mặt nước là chỗ diễn của con rối. Con rối có thể múa, cử động thông qua việc điều khiển (hay còn gọi là giật trò) của các nghệ nhân đứng trong buồng trò và giấu kín mình. Nếu như ở trong rối cạn, con rối là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất thì ở rối nước đòi hỏi sự kết hợp của hai yếu tố: rối và nước. Rối nước có múa, có rối, có nước, chính vì vậy cái tên “múa rối nước” đã ra đời theo một cách giản dị và dễ hiểu nhất. Và múa rối nước không chỉ đơn thuần là điều khiển con rối trên mặt nước mà còn là sự kết hợp của ca, múa, nhạc, tích, diễn, hề cùng những hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, khói, lời giáo trò, câu thoại qua lại, dàn nhạc,.... tất cả tạo thành tiết mục múa rối đặc sắc, sống động, chân thực và giàu cảm xúc.

Là loại hình nghệ thuật độc nhất vô nhị chỉ có tại Việt Nam với sân khấu nước kì lạ và đặc sắc, cùng hình tượng đặc trưng là chú Tễu, múa rối nước là bộ môn nghệ thuật đậm đà sắc thái, tâm hồn người Việt, phản ánh chân thực chất đời, chất dân dã và văn hóa của nông thôn vùng châu thổ sông Hồng, đồng thời là “cuốn lịch sử sống” về dân tộc Việt Nam.

2. Nhã nhạc cung đình Huế

Nói một cách đơn giản, Nhã Nhạc là cụm từ nhắc đến bao quát các thể loại ca nhạc, múa và kịch hát, thường được biểu diễn trong những nghi lễ cúng tế, triều chính và các ngày quốc lễ do triều đình tổ chức. Thường thì đây cũng là dịp để vua và hoàng tộc có được những phút giây sinh hoạt, vui chơi giải trí. Tới thời nhà Hồ, cái tên Nhã Nhạc bắt đầu được dùng để nhắc đến âm nhạc cung đình nói chung và lễ nhạc cung đình nói riêng. Thi thoảng, có lúc cái tên này được dùng để gọi một tổ chức âm nhạc hoặc dàn nhạc cụ nào đó.

Vào ngày 7/11/2003, Nhã Nhạc cung đình Huế - loại hình âm nhạc mang tính bác học, là biểu tượng của âm nhạc cung đình chính thức được UNESCO ghi tên vào Danh mục Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, đồng thời tôn vinh là Di sản Văn hóa Phi vật thể giữa lòng cố đô thanh bình. Đây là một trong những điểm sáng trên tấm bản đồ du lịch cố đô, biến Huế trở thành một trong những điểm đến lý tưởng bên cạnh một loạt các điểm tham quan tại Huế mang đậm phong vị cổ kính, hoài niệm cùng dòng sông Hương thơ mộng.

3. Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, cồng chiêng là ngôn ngữ giao tiếp hàng đầu của con người với thế giới siêu nhiên, được coi là biểu hiện cho tài sản, quyền lực, sự an toàn trong mỗi gia đình và cộng đồng. Văn hóa cồng chiêng là loại hình nghệ thuật gắn với lịch sử văn hóa của các dân tộc thiểu số sống ở Trường Sơn -Tây Nguyên. Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình.

Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hoá đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên. Cồng chiêng Tây nguyên đặc biệt hay, không chỉ ở sự đa dạng độc đáo về các bè trầm bổng, mà cồng chiêng chính là cuộc sống của người Tây Nguyên. Nghe cồng chiêng thì thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội... của người Tây Nguyên. Ngày 25/11/2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

bottom of page